Ý nghĩa thành ngữ tiếng Anh

“Tôi rất thích nghiên cứu về cách dùng từ trong tiếng Anh, đặc biệt là cách sử dụng các thành ngữ. Chúng ta thường xuyên kết hợp chúng thành từng cụm để diễn đạt một ý kiến hay cảm xúc mà ai cũng có thể hiểu được. Tuy nhiên, một vài thành ngữ còn trở nên quá quen thuộc và sáo mòn đến nỗi chúng ta hiểu chúng theo nghĩa đen thì chúng lại chẳng mang bất kỳ nghĩa gì cả.

Ví dụ như:

By the skin of her teeth (trong gang tấc)
Cooling his heels (chờ xét xử)
Cat’s got your tongue (im lặng một cách lạ thường)
Flying by the seat of their pants (tự xoay sở, làm theo bản năng)

Bây giờ tôi sẽ ‘put a bug in your ear’ (kể cho các bạn nghe) một chuyện đã ‘have me rolling in the aisles’ (làm tôi cười đau cả ruột). Tôi ‘hear it through the grapevine’ (nghe người ta kể) về nó ‘in a month of Sundays’ (cũng lâu rồi) nhưng nếu giờ mà tôi không ‘dish the dirt’ (nói chuyện này với ai) sớm thì tôi sẽ ‘be beside myself’ (không chịu nổi) mất thôi.

Vào một ngày trời ‘rain cats and dogs’ (mưa tầm tã), cô bạn thân nhất của tôi ‘stick her foot in her mouth’ (vô tình) ‘spill the beans’ (tiết lộ bí mật) về ‘main squeeze’ (người yêu) của cô ấy. Tuy cô ấy ‘have loose lips’ (không phải là người kín miệng) nhưng lần này cố ấy ‘talk my arm off’ (kể mãi không thôi) về ‘sugar daddy’ (ông bồ già) của cô.

Có vẻ như ông ấy đã ‘have his nose to the grindstone’ (làm việc cật lực) trong nhiều tháng trời cho đến khi ông ‘pop a cork’ (có tiền) và quyết định ‘go on the lam from work’ (nghỉ làm). Khi ông đi đến ‘watering hole’ (quán rượu) trong vùng thì ông cũng đã ‘tie one on’ (có chút hơi men) rồi vì thế chỉ được ‘two shakes of a lamb’s tail’ (một lúc thôi) ông đã ‘wound up three sheets to the wind’ (say bí tỉ). Ý tôi là ‘drunk as a skunk’ (say như điếu đổ) ấy.

Sau đó, các bạn cũng biết đấy, ai đó đã ‘tick him off’ (chọc giận ông), rồi ‘like a bull in a china shop’ (chẳng biết như thế nào), ông ‘wipe the floor’ (ẩu đả) với người đó và rồi dễ dàng ‘cleaned his clock’ (làm anh chàng nằm ngây đơ). Dĩ nhiên là lúc đó ông không ‘know the guy from a hole in the wall’ (biết tí gì về anh ta), nhưng té ra anh ta lại ‘born with a silver spoon in his mouth’ (là cậu ấm cô chiêu) và ‘be joined at the hip with’ (là bạn nối khố) con trai của ông chủ của ông.

Các bạn có nắm được vấn đề ở đây không?

Và lúc này đây, tôi sắp mất hứng với ‘the whole shooting match’ (tất cả mọi thứ) vì tôi chẳng ‘get my arms around’ (biết một tí) gì về mục đích của cuộc thả bộ ra công viên này. Cô bạn của tôi lại tỏ ra ‘basket case’ (vô dụng, chẳng biết phải làm gì) trong ‘can of worms’ (trình huống khó khăn) này. Mặc dầu mọi thứ có vẻ ‘out of whack’ (chẳng ra gì), tôi vẫn phải nghe cô ấy huyên thuyên về ‘cock and bull story’ (câu chuyên dở hơi) này.

Câu chuyện tóm lại là như thế này, ông bồ già cảm thấy ‘his heart in his mouth’ (lo lắng) khi ông phát hiện ‘what a pickle he’s in’ (mình đang ở trong một tình huống khó khăn). Vì thế ông chụp điện thoại và gọi cho ‘flavor of the month’ (người yêu) và bắt đầu ‘crying in his beer’ (khóc lóc kể lể) về việc ông ta sẽ thất vọng như thế nào nếu cô ấy không ‘hustle her bustle’ (nhanh chóng) đến đó và giúp ông ta ‘put some lipstick on the pig’ (che đậy, xử lý) rắc rối này trước khi cảnh sát tống ông vào tù.

Giờ thì tôi phải công nhận là cô ấy thật là ‘wet behind the ears’ (quá ngây thơ), đáng lý ra cô ấy phải biết là ông ta đang ‘feed her a line’ (lừa cô ấy) chứ. Nhưng không, cô ấy lại ‘swallow it hook, line and sinker’ (hoàn toàn tin tưởng) điều đó. Cô ‘throws caution to the wind’ (liều mạng) và ‘lays rubber’ (lái xe như điên) vào thị trấn để cứu một lão say rượu ‘dumber than a stump’ (ngu ngốc).

Khi cô bước vào quán rượu, nạn nhân vẫn còn ‘out cold’ (bất tỉnh) và cô còn nghĩ là anh ta hẳn đã ‘kicked the bucket’ (ra đi) rồi – nghĩa là ‘buy the farm’ (ngủm củ tỏi) ấy mà. Cô đỡ anh ta dậy và ‘paid through the nose’ (vung tiền) để gọi taxi rồi đưa anh ta về nhà. Sau đó cô và ông kép già ‘took a powder’ (chuồn lẹ) trước khi cảnh sát đến.

Nhưng đây mới là ‘icing on the cake’ (cái đáng nói) nè. Ngày hôm sau, ông bồ già ‘hands my friend the green weenie’ (chơi xỏ bạn tôi). Thật vậy! Ông bảo ông cần thời gian và cần suy nghĩ và nghĩ rằng họ nên xa nhau một thời gian.

Tôi đã cố an ủi cô nhưng cô ấy thật sự ‘kissed the pooch’ (không thể tin nổi) Tôi phải ‘put my cards on the table’ (lật bài ngửa, nói thẳng) và chỉ cho cô ấy thấy những gì sẽ xảy ra nếu như cô ấy cứ ‘wear heart on sleeve’ (để ruột ở ngoài ra) như thế. Vì vậy hãy ‘put that in your pipe and smoke it’ (cố mà ghi nhớ những gì tôi đã bảo)!

‘That’s how the cookie crumbles!’ (Đời là thế mà!)”

array(0) { }